Trong dự thảo Luật Quản Lý Thuế mới đây, ngân hàng thương mại có trách nhiệm cung cấp nội dung giao dịch qua tài khoản, số dư tài khoản của người nộp thuế cho cơ quan quản lý thuế khiến dư luận đặc biệt quan tâm, lo ngại đến vấn đề an toàn bảo mật tài khoản người dùng.

Chiều 14/11, Quốc hội (QH) thảo luận tại hội trường về Luật Quản lý thuế (sửa đổi). Nội dung được quan tâm nhất là quy định tại khoản 2, điều 27 về cung cấp thông tin tài khoản ngân hàng của khách hàng cho ngành thuế, báo Người Lao Động đưa tin.

Theo đó, trong dự án Luật Quản lý thuế (sửa đổi) vừa được Chính phủ trình Quốc hội, quy định rõ trách nhiệm của tổ chức, cá nhân có liên quan (bao gồm cơ quan cấp giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh hoặc giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp; Kho bạc Nhà nước; ngân hàng thương mại; cơ quan quản lý nhà, đất…) trong việc cung cấp thông tin về người nộp thuế.

Đặc biệt, ngân hàng thương mại có trách nhiệm cung cấp nội dung giao dịch qua tài khoản, số dư tài khoản của người nộp thuế trong thời hạn mười ngày làm việc, kể từ ngày nhận được yêu cầu cung cấp thông tin của cơ quan quản lý thuế.

Liên quan đến sự việc này, đại biểu (ĐB) Phạm Thị Thu Trang (Quảng Ngãi) phân tích: “Quy định này không phù hợp với yêu cầu bảo mật thông tin khách hàng của ngân hàng theo quy định của Luật Các tổ chức tín dụng. Theo đó, ngân hàng không được cung cấp thông tin liên quan đến tài khoản, tiền gửi, tài sản gửi, các giao dịch của khách hàng, trừ trường hợp cơ quan nhà nước có thẩm quyền yêu cầu, theo quy định của hệ thống pháp luật và sự chấp thuận của khách hàng”.

ĐB Hoàng Văn Cường, Phó Hiệu trưởng Trường Đại học Kinh tế Quốc dân, nhìn nhận số dư tài khoản ngân hàng không nói lên việc cá nhân, doanh nghiệp trốn thuế hay không. Do đó, ngành thuế không có cơ sở để đề nghị ngân hàng cung cấp thông tin.

Theo luật sư Trương Thanh Đức (Cty Luật Basico), quy định này đã có trong Luật quản lý thuế năm 2006 và có thông tư hướng dẫn thực hiện từ trước đến nay. Tuy nhiên, hiện nay, cơ quan quản lý sắp xếp lại các quy định.

“Khi thực hiện quy định này sẽ liên quan đến bảo đảm thông tin mật của khách hàng. Việc đảm bảo độ tin cậy, độ an toàn như thế nào? Nếu quy định không rõ ràng sẽ tạo ra kẽ hở, thực hiện nhanh hay chậm sẽ ảnh hưởng quyết định cung cấp thông tin. Ngoài ra, nếu cơ quan thuế được tra cứu tự động từ kiếm thông tin sẽ không đảm bảo nguyên tắc, ngân hàng sẽ không kiểm soát được và sẽ không đảm bảo được bí mật của khách hàng”, ông Đức cho biết.

Theo ông Đức, để quy định phù hợp, cơ quan quản lý nhà nước cần phân loại, việc cung cấp số dư thuế nhằm chống gian lận thương mại hay tuân thủ pháp luật. Các văn bản pháp luật cũng cần làm rõ, việc cơ quan thuế yêu cầu cung cấp thông tin theo thẩm quyền như thế nào, yêu cầu bảo mật ra sao, chứ không thể yêu cầu ngân hàng cung cấp danh sách hàng nghìn khách hàng.

Trước đó, khi Bộ Tài chính đề nghị ngân hàng tham gia vào một số khâu trong phối hợp truy thu thuế đối với cá nhân có thu nhập lớn từ kinh doanh thương mại điện tử (TMĐT), Ngân hàng Nhà nước đã có văn bản trả lời về dự thảo Luật Quản lý thuế (sửa đổi). Ngân hàng Nhà nước khẳng định: Quản lý thuế là chức năng của ngành thuế nên việc quy trách nhiệm nhiệm cho ngân hàng thương mại (NHTM) là không phù hợp, theo báo Tiền Phong.

Giải trình sau khi nghe toàn bộ ý kiến của đại biểu, Bộ trưởng Bộ Tài chính Đinh Tiến Dũng cho rằng, luật hiện hành cũng quy định ngân hàng phải cung cấp thông tin tài khoản của khách hàng là người nộp thuế mở tại ngân hàng cho cơ quan quản lý thuế. Theo luật mẫu của IMF cũng như các nước OECD đều khuyến nghị Việt Nam phải có chế tài như vậy, đặc biệt trong điều kiện Việt Nam đang phát triển giao dịch điện tử cũng như thương mại qua biên giới.

Cũng trong văn bản trả lời Bộ Tài chính, NHNN lưu ý: Pháp luật hiện hành quy định, NHTM chỉ được cung cấp thông tin theo yêu cầu bằng văn bản của cơ quan Nhà nước trong quá trình thanh tra, điều tra, truy tố, xét xử, thi hành án…

“Việc định kỳ cung cấp thông tin tài khoản, cung cấp thông tin của người nộp thuế quy định tại khoản này có phạm vi quá rộng và có thể dẫn tới việc lạm dụng quy định trong quá trình thực thi, đồng thời không phù hợp với yêu cầu về bảo mật thông tin quy định tại khoản 2, khoản 3 Điều 14, Luật Các tổ chức tín dụng.”, NHNN nêu rõ.

Cũng vì thế, NHNN khẳng định: Lượng thông tin tài khoản của người nộp thuế mở tại ngân hàng là rất lớn, do đó việc yêu cầu cung cấp thông tin định kỳ cho các cơ quan quản lý thuế sẽ gây khó khăn cho các tổ chức tín dụng và khó thực hiện trên thực tế. Ngoài ra, về nguyên tắc, việc cung cấp thông tin chỉ nên áp dụng đối với các tài khoản liên quan giao dịch về thuế và người nộp thuế có thái độ trốn tránh, chây ỳ thực hiện nghĩa vụ thuế.

“Việc định kỳ cung cấp thông tin tài khoản, thông tin người nộp thuế có phạm vi quá rộng có thể dẫn tới việc lạm dụng quy định này trong quá trình thực thi”- Ngân hàng Nhà nước khẳng định tại văn bản trả lời Bộ Tài chính.

Thanh Thanh (t/h)

Xem thêm:

Thể Loại: Kinh tế

CLIP HAY